Độ lùi thời gian cho ta thêm điều kiện nhìn lại quá khứ, hướng tới tương lai. Độ lùi thời gian cho ta hiểu chân giá trị cuộc sống mà cả dân tộc phải đổi bằng máu xương mới giành được độc lập-tự do. 

Ngày 30-4-1975 là ngày toàn thắng. Nói theo cách của cố Thượng tướng Trần Văn Trà, Chủ tịch Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn-Gia Định trong buổi gặp gỡ báo chí trong nước và  quốc tế chiều 1-5-1975 tại Dinh Độc Lập (nay là Hội trường Thống Nhất, là: "Chiến thắng này là của toàn dân tộc Việt Nam. Dân tộc Việt Nam đã được sum họp một nhà. Tổ quốc Việt Nam đã được thống nhất...".

leftcenterrightdel
Sau 42 năm giải phóng, diện mạo đô thị Sài Gòn-Thành phố Hồ Chí Minh đã được xây dựng hiện đại, khang trang. (Trong ảnh: Một góc khu đô thị bên kênh Tàu Hủ, quận 1). Ảnh: ĐÀO VĂN SỬ 
Chiến công chung, ngày toàn thắng ấy còn in đậm trong suy nghĩ và hành động của mỗi người lính trực tiếp cầm súng trong chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn cách đây đúng 42 năm. Trung tướng Lê Nam Phong và Trung tướng Nguyễn Văn Thái năm nay đều đã ở tuổi chín mươi. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử tháng 4 năm 1975, hai ông trực tiếp chỉ huy Sư đoàn 7, Quân đoàn 4 tiến công giải phóng Xuân Lộc. Trong kế hoạch, Sư đoàn 7 sẽ là đơn vị cắm cờ trên Dinh Độc Lập. Nhưng trong quá trình tiến công vào Sài Gòn, các đơn vị của Quân đoàn 2 gặp thuận lợi hơn, đã tiến vào trước, cắm cờ trên nóc Dinh Độc Lập. Ngay sau đó ít phút, các đơn vị của Sư đoàn 7 cũng có mặt. Một số cán bộ, chiến sĩ có vẻ buồn vì không được vinh dự cắm cờ. Sư đoàn trưởng Lê Nam Phong nói: "Chiến công chung mà! Đơn vị bạn vào trước thì cắm cờ trên cao, mình vào sau thì mình cắm cờ dưới thấp...".

Lời động viên của Sư đoàn trưởng như làn gió mát tỏa lan đến mọi cán bộ, chiến sĩ. Ai cũng tự hào, chiến công này là chiến công chung của toàn quân, toàn dân, của toàn dân tộc ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng! 

Âm hưởng về chiến công chung của toàn dân tộc thấu suốt thời gian, không gian gần nửa thế kỷ nay và còn vang mãi đến muôn sau...  42 năm qua, kể từ ngày 30-4-1975, vấn đề hòa giải và hòa hợp dân tộc đã có những bước chuyển biến mạnh mẽ, ngày càng thấm đậm tính nhân văn. Càng có độ lùi thời gian, chúng ta càng thấm thía sâu sắc lời dạy của Hồ Chủ tịch: "Nước Việt Nam là một; dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi!".

Hơn 4 triệu người Việt Nam đang sinh sống, học tập và làm việc ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời của đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam. 

Đảng và Nhà nước ta suốt mấy chục năm qua luôn kiên định quan điểm đó. Gác lại quá khứ, hướng tới tương lai, không chỉ là đường lối đối ngoại rộng mở mà còn là đường lối đối nội nhân văn của Đảng, Nhà nước ta.

Đất nước thống nhất thì mọi người dân nước Việt, "máu đỏ da vàng, con Rồng cháu Tiên" cùng chung tay bảo vệ và xây dựng đất nước. Đó cũng là một trong những căn cứ lý giải, trong khi thế giới mất ổn định, các cuộc chạy đua vũ trang ngày càng gay gắt thì Việt Nam vẫn là một đất nước bình yên; đời sống người dân từng bước được cải thiện một cách bền vững.

Vấn đề hòa giải và hòa hợp dân tộc là một sự thật hiển nhiên. Bà con Việt kiều ta từ nước ngoài trở về, bất biết nguồn gốc ra đi trước đây như thế nào, đều hướng về Tổ quốc, quê hương. Điều tiên quyết nhất là trở về quê hương để thành tâm góp phần xây dựng đất nước; chăm lo hạnh phúc gia đình, dòng tộc...

Tuy đâu đó vẫn còn những định kiến trong nhận thức và hành động về vấn đề hòa hợp và hòa giải dân tộc, làm phương hại đến sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, tổn hại nét đẹp, truyền thống ngàn năm văn hiến của dân tộc, nhưng đó chỉ là số ít. Đại đa số đồng bào và kiều bào khắp nơi trên thế giới đều chung một ý nguyện đóng góp sức mình vì sự phát triển phồn vinh của đất nước! Đoàn kết là mạch nguồn sức mạnh! 

TRẦN THẾ TUYỂN